Về nơi gió cát - về nơi nuôi dưỡng tình yêu và tình người

Nội dung được lưu trữ tại : Điện ảnh

(TGĐA) - Về nơi gió cát ra đời vào một thời điểm đặc biệt của lịch sử nước nhà, ghi dấu ấn đáng kể trong nghệ thuật tạo dựng sắc nét chân dung hình tượng mới, góp phần làm phong phú phương thức thể hiện trong phim truyện Việt Nam.

http://hailahot.com - Chuyên mục Kênh giải trí tổng hợp các tin tức HÀI - LẠ - HOT của Việt Nam và thế giới !
Tin tức hài hước | Chuyện lạ của các ngôi sao hàng đầu thế giới ở các lĩnh vực


Xí nghiệp phim Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh sản xuất năm 1981
 
Giải Bông sen vàng LHP VN lần thứ VI- 1983
 
Giải nữ diễn viên cho Hương Xuân
 
Quay phim cho Lê Đình Ấn
 
Kịch bản cho Huy Thành
 
Bằng khen của tạp chí Điện ảnh Liên xô tại LHP Quốc tế Maxcơva- 1983
 
Biên kịch:        Huy Thành
 
Đạo diễn:        Huy Thành
 
Quay phim:     Lê Đình Ấn
 
Họa sĩ:             Trần Hữu Bích
 
Nhạc sĩ:           Huỳnh Phúc Nghĩa
 
Diễn viên:        Trần Vinh vai Lũy
 
                        Hương Xuân vai Duyên
 
                       Vi Cường vai Sơn
 
                       Sao Mai vai Bé Mai
 
Nội dung: Sau thời gian thoát ly hoạt động cách mạng, Lũy được phân công trở về quê hương làm Bí thư xã. Làng Cát quê anh sau giải phóng đang trải qua nhiều biến động, tình hình phức tạp đang cần  được ổn định nhanh. Duyên, người vợ thân thương của Lũy, do hòan cảnh đưa đẩy, nay đã lấy chồng là một người lính của chính quyền cũ và đã có con. Đương đầu với trọng trách xã hội cùng với nỗi đau riêng, người cán bộ cách mạng phải kiên cường vượt qua mọi cản ngại, chung cũng như riêng - để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời để làm tròn vai trò của một người chồng cũ trong hoàn cảnh mới….
 
Nắng chiều rắc vàng lên lưng sóng xanh biếc, phủ một lớp bạc lên mặt cát lô nhô trải dài tít tắp. Lũy tập tễnh băng qua đụn cát, về làng. Đây là lần trở về đầy cảm hứng của nhân vật chính bộ phim, sau thời gian dài thoát ly chiến đấu và trở thành thương binh. Hẳn rằng trong lòng Lũy giờ đây ngổn ngang bao nỗi: khấp khởi gặp lại làng xưa chốn cũ cùng gia đình thân yêu, song không khỏi xen lẫn lo lắng dè chừng trước những diễn biến khó lường của một vùng quê mới được giải phóng… Và phút gặp gỡ Duyên sau đó đã trở thành bước ngoặt lớn trong cuộc sống cũng như công việc của Lũy. Người vợ đau đáu mong chờ ấy giờ đã lấy chồng và có con! Sơn, chồng Duyên, một người lính tốt bụng đã xả thân cứu người đàn bà không may rơi vào tay địch.
 
Từ đó, mối quan hệ của bộ ba Lũy- Duyên- Sơn trở nên đặc biệt nhạy cảm, tế nhị, khó lường trước những tình thế bất ngờ nảy sinh. Lũy mất mát đau đớn, bởi anh yêu và quý trọng Duyên hơn cả bản thân mình. Đó là người vợ thân yêu đã thay anh chăm sóc chu đáo mẹ già của anh trong suốt thời gian thoát ly công tác. Yêu thương là vậy nhưng bắt buộc phải tự dừng lại, vì tiếng gọi của lương tâm và trách nhiệm của người cán bộ cách mạng, Lũy luôn phải tự đấu tranh với chính mình để đứng vững. Cho dù là kẻ chiến thắng, có trong tay đầy đủ quyền uy, Lũy vẫn tự bắt buộc phải đối xử đúng mực với Sơn, bởi đó là cha của đứa bé vô tội và là đối tượng cần thực hiện chính sách riêng sau giải phóng.
 
Trong lúc đó, Duyên đắng cay rơi vào trạng thái lỡ làng, một bên là chồng con trên thực tế và một bên là người chồng hợp pháp mà đến giờ chị vẫn tha thiết tin yêu. Đứng trước hoàn cảnh trái ngang, nhân vật này như bị đặt vào giữa hai dòng thác, xiết chảy ngược chiều nhau; tâm trạng và hành động luôn bị cọ xát, thử thách. Tác giả đã xử lý hợp lý, tinh tế mối quan hệ tế nhị, phức tạp giữa bộ ba nhân vật Lũy - Duyên - Sơn, tạo động lực triển khai thành công cốt truyện, xây đắp hình tượng tác phẩm đạt hiệu quả  thuyết phục cao. Về mặt hình tượng văn học, đây là sáng tạo thành công rất đáng ghi nhận của các tác giả phim.
 
Sau cuộc chiến, đất nước thống nhất trong niềm hân hoan thiêng liêng, đồng thời đối mặt với vô vàn khó khăn, phức tạp do thực tế cuộc sống đem lại: Sự chống đối ngầm lúc âm ỉ, lúc bùng phát; nỗi e dè, nghi ngại như đám mây đen, bảng lảng đó đây… Trạng huống đó đặt Lũy vào tư thế chiến đấu mới, với nhiệm vụ nặng nề vừa lãnh đạo địa phương xây dựng cuộc sống yên bình, vừa phải thực thi chủ trương hòa hợp dân tộc, hàn gắn những nỗi đau, những mất mát mà chiến tranh đã gieo rắc lên làng xóm cũng như từng con người.
 
 
[B][I]Về nơi gió cát[/I][/B] của Huy Thành được đặt vào giữa vòng xoáy của nhiệm vụ này. Tác giả phim đã khéo tạo ra tình huống đặc hữu, đẩy nhân vật vào ngõ cụt và buộc phải bước qua. Con đường hẹp mà Lũy phải men theo để hoàn thành phận sự của một cán bộ cách mạng khi về làng, trong trường hợp này, đồng nghĩa với đòi hỏi khách quan là phải đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Chính đó cũng là tiền đề sản sinh hệ thống xung đột tình huống và nội tâm mang sắc thái “bi kich lãng mạn” - một biến dạng của trạng huống “đau khổ lạc quan”. Qua vậy, khi sự thực phũ phàng hiện ra, chặn đứng bước chân của Lũy trở về căn nhà quen thuộc của mình; nhân vật của bộ phim lập tức rơi vào thảm kịch. Với Duyên, cuộc trở về cua Lũy là sự kiện hằng được mong chờ, đồng thời cũng là khai mào của một tiến trình bế tắc, tiến thoái lưỡng nan. Trong khi đó, với thân phận thất thế đủ bề, Sơn thui thủi buông xuôi theo số phận.
 
Tuy nhiên, dưới ngòi bút và ống kính của tác giả phim, nhân vật Lũy trong vai trò người cán bộ cách mạng, đã hóa giải một cách thuyết phục các mắc mớ - cũng là các nguồn gốc kết tạo mâu thuẫn trong mối quan hệ mong manh, tế nhị giữa các nhân vật. Thái độ cũng như  cách xử trí của Lũy có phần trái với quy luật thông thường của tình cảm, song lại phù hợp với logic sự kiện cũng như ý tưởng xây dựng hình tượng tiêu biểu của tác giả về người chiến sĩ Cộng sản trong môi trường chiến đấu mới. Từ câu chuyện phim, toát lên ý nghĩa  nhân văn sâu sắc và gây cảm xúc chân thành. Chính viì thế mà tấn bi kịch não lòng bỗng nhuốm màu lãng mạn và nỗi buồn đau được xoa dịu, tiếp thêm sức sống lạc quan. Tâm lý nhân vật được khai thác, khoét sâu từ các khía cạnh ẩn tàng sâu kín nơi nội tâm, được diễn đat một cách kín đáo, nhỏ nhẹ và tuần tự, phù hợp với hoàn cảnh cũng như tính cách riêng của từng nhân vật - cho dù, về bản chất, mâu thuẫn tâm lý được tác giả thiết kế là hết sức bạo liệt, mang tính đối chọi sống còn. Sự “hài hòa hóa” này là kết quả của thủ pháp tiết chế trong nghệ thuật biểu hiện phù hợp với phong tục, truyền thống văn hóa Việt địa phương.
 
 
Như đã thấy, ở tác phẩm này, chính nhân vật chứ không phải  yếu tố nào khác (như tình huống, sự kiện…) giữ vai trò động lực trọng tâm khởi động, khai triển chủ đề, tư tưởng bộ phim - trong đó lần đầu tiên tạo dựng thành công hình tượng được chờ đợi về phẩm cách, bản lĩnh của người cán bộ cách mạng trong hoàn cảnh, tình thế mới. Bên cạnh điểm mạnh xây dựng được những mẫu nhân vật điển hình có khuôn dáng, cá tính và số phận tiêu biểu riêng biệt, đồng thời đặt họ vào đúng vị trí nhạy cảm nhất của từng thân phận; tuy nhiên bộ phim cũng tồn lưu vài nhược điểm trong nghệ thuật xử lý mối quan hệ giữa các nhân vật. Rõ ràng rằng cuộc trở về của Lũy với làng quê và gia đình là cuộc trở về sinh tử của một đời người. Sự đổ vỡ sau đó khi phải đương đầu với thực tế đau đớn là mẹ già đã mất, vợ yêu đã rẽ ngang lấy chồng, có con và sinh sống ngay trong ngôi nhà của mình; Lũy dã phản ứng quá lý trí,chậm chạp và có phần cứng nhắc, không tương ứng với logic thông thường cũng như với đòi hỏi đẩy kịch tính lên cao trào.
 
Vẫn biết rằng trong trường hợp này, để thực hiện lý tưởng của hình tượng, Lũy phải được chỉ định đi trên đôi chân của lý trí hơn là của cảm tính. Song giá như ở đây, tác giả chủ ý khoan sâu hơn nữa, khai thác triệt để hơn nữa những khúc mắc, va chạm tâm lý và tình cảm giữa Lũy với Duyên cũng như giữa Lũy với Sơn, giữa Sơn với Duyên, chứ không để Lũy dễ dàng chấp nhận thực tế như đã diễn ra; thì hiệu quả chân thực sẽ được nâng lên, tác động tư tưởng và tình cảm đối với người xem sẽ được khắc sâu hơn. Trong sự kiện bọn xấu tổ chức ám hại Lũy - một sự kiện quan trọng có khả năng dồn nén kịch tính và kiến tạo khung cảnh khác thường ở làng Cát - cái đấu trường diễn ra mọi mâu thuẫn phức tạp giữa cũ và mới, giữa tiến bộ và bảo thủ ; tác giả phim đã bỏ qua cơ hội, đơn giản hóa vấn đề, chỉ mô thuật một cách khái quát, tương trưng, không tạo nên dấu ấn cần thiết có tác dụng nén chặt cốt truyện và rèn đúc nhân vật.
 
Trần Vịnh thiên về diễn xuất ngoại hình hơn là nội tâm. Anh đã khắc họa sắc nét dáng vẻ riêng của nhân vật: tự tin, hăng hái, năng nổ; xốc vác, sâu sát, hòa đồng. Là trụ cột của cốt truyện phim, nhân vật Lũy được thể hiện như một con người trung thực, đáng tin cậy; một thủ lĩnh không nề khó khăn, không quản bất trắc. Có thể thấy rõ là tác giả phim chủ ý tạo dựng ở đây hình ảnh một người cán bộ cách mạng hoàn hảo: sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng vì sự nghiệp chung, trung thành, kiên định, trách nhiệm và luôn gần dân.
 
Vì thế, Trần Vịnh đã chọn lối thể hiện mềm mại, bỗ bã, không khoa trương, không cường điệu, lúc nào cũng ân cần, tươi cười. Tuy nhiên, ở khía cạnh tâm lý, lối diễn đơn thuần đó đã phần nào làm vợi đi chiều sâu của sự sâu sắc, lắng đọng - là đòi hỏi đặc trưng khách quan của tác phẩm này. Vai Duyên được Hương Xuân, với khuôn mặt ẩn chứa nhiều biểu cảm, khá tinh tế, gợi tình, đậm cảm xúc nội tâm thể hiện. Không bằng động tác khoa trương bên ngoài mà bằng ngôn ngữ cử chỉ xuất phát từ tâm trạng; Hương Xuân đã chau chuốt rõ nét hình ảnh người phụ nữ thôn quê hồn hậu, truân chuyên trong một hoàn cảnh đặc biệt nghiệt ngã. Đặc điểm chung nổi bật của các vai diễn chính trong phim này là thuần phác, kín đáo, chân thực, gây được xúc cảm tự nhiên.
 
Lê Đình Ấn, tay quay nhiều kinh nghiệm và có cá tính đã thu được nhiều khuôn hình đẹp gây hào hứng ,đặc biệt với những cảnh làng quê yên bình chìm trong gió lộng, cát vàng cùng biển xanh. Phần lớn cảnh quay diễn ra ngoài trời. Nhà quay phim đã kết hợp ánh nắng tự nhiên, cả thuận chiều và ngược chiều, gắn nhân vật với cảnh trí thiên nhiên; tạo nên những khuôn hình có cấu trúc chặt chẽ, cân đối, gợi cảm xúc vừa ấm áp vừa sinh động. Qua ống kính máy quay, câu chuyện phim như tan hòa vào không gian, địa điểm đặc trưng của một vùng biển đep miền Trung. Máy quay tỏ ra khá thụ động trong di chuyển, và khi di chuyển cũng cố ý kkhông tạo nên những quỹ đạo phức tạp nhằm tìm kiếm hiệu quả đặc biệt. Từ tốn và điềm tĩnh, ống kính lột tả một cách bình thản và nhu dịu tầng sâu của tư duy cùng cảm xúc- một lối thể hiện khớp hợp với hình thức tự sự trữ tình của câu chuyện phim. Một số cảnh quay được nhà quay phim đặc biệt tô đậm, tạo sắc màu tương phản mạnh, cố gắng diễn thuật rõ nét hơn mức độ xung đột gay gắt giữa các nhân vật.
 
Bằng tiết tấu quay và dựng nhịp nhàng, khoan hòa, kết hợp với cấu trúc hài hòa của khuôn hình cùng sắc độ êm dịu của ánh sáng; các tác giả theo đuổi phong cách hội họa trực quan, kết tạo nhiều tầng cảm xúc khá sâu lắng. Câu chuyện phim được cấu trúc gọn chặt, tập trung  vào tư tưởng tâm điểm và nhân vật hạt nhân.
 
Về nơi gió cát ra đời vào một thời điểm đặc biệt của lịch sử nước nhà, ghi dấu ấn đáng kể trong nghệ thuật tạo dựng sắc nét chân dung hình tượng mới, góp phần làm phong phú phương thức thể hiện trong phim truyện Việt Nam.
 
Trần Luân Kim

Từ khóa :


Link nguồn copy bài viết : http://hailahot.com/dien-anh-cm115/ve-noi-gio-cat-ve-noi-nuoi-duong-tinh-yeu-va-tinh-nguoi-ct419

0 nhận xét: